096 688 6651

Cách dùng các nhóm thuốc điều trị viêm loét dạ dày hiệu quả nhất

Các loại thuốc để điều trị dạ dày có đến hàng tram nhãn nhưng 5 nhóm thuốc được nhiều bác sĩ kê đơn điều trị hiệu quả nhất. Cùng tìm hiểu cụ thể của 5 nhóm thuốc điều trị tốt nhất bệnh viêm loét dạ dày.

https://docs.google.com/forms/d/1tFUP-G0EercMXjVVBk5sGb5ToYVSjudlX13upxLeojk

 

Tìm hiểu bệnh viêm loét dạ dày tá tràng.

Là một trong những bệnh lý thường gặp về đường tiêu hóa, đó là hậu quả của mất cân bằng giữa yếu tố gây phá hủy niêm mạc dạ dày (gây tăng tiết quá mức acid HCI. pepsine) và bảo vệ niêm mạc dạ dày (chất nhầy. prostaglandin). Xoắn khuẩn Helicobacter pylori cũng góp phần gây ra viêm loét  dạ dày bởi chúng tiết ra một số chất làm tăng tiết acid trong dạ dày.

Để hiểu được rõ nguyên nhân dẫn đến bệnh viêm loét dạ dày , tá trang, các nhóm thuốc điều trị bênh thường được sử dụng như sau:

Những nhóm thuốc kháng acid

Các yếu tố tấn công dạ dày là sự tăng tiết acid và pepsin. Do đó, nhằm chống lại yếu tố tấn công này, các loại thuốc thường được dùng là:

Các thuốc kháng acid: là nhóm thuốc có tác dụng giúp trung hòa acid trong dịch vị, nâng độ pH của dạ dày lên tạo điều kiện thuận lợi cho việc tái tạo niêm mạc dạ dày đồng thời khiến hoạt tính của pepsine giảm. Các thuốc này thườngcó tác dụng cắt cơn đau nhưng chỉ trong thời gian sử dụng. Thông thường, khi dạ dày rỗng thì các thuốc kháng acid thoát khỏi dạ dày sau 30 phút sử dụng, còn khi dạ dày có thức ăn thì sau khoảng 2 giờ.

Những thuốc kháng acid thường chứa magnesi và nhôm có tác dụng kháng acid tại chỗ, do không hấp thu vào máu nên nhóm thuốc này ít gây tác dụng toàn thân. Thuốc kháng acid dạ dày có chứa magnesi giúp nhuận tràng, còn thuốc kháng acid chứa nhôm có thể gây táo bón cho người bệnh. Với người có thận khỏe, khả năng tích lũy nhôm và magnesi không cao.

Tốt nhất là nên sử dụng thuốc kháng acid dạ dày để điều trị viêm loét dạ dày sau bữa ăn từ 1 đến 3 giờ và uống trước khi đi ngủ. Chỉ nên dùng 3 – 4 lần một ngày. Nhóm thuốc này làm tăng độ pH dạ dày nên khi sử dụng sẽ ảnh hưởng đến sự hấp thu của các loại thuốc khác do vậy nên dùng cách các thuốc khác ít nhất 2 giờ.

Các thuốc làm giảm tiết acid

Nhóm thuốc làm giảm tiết acid gồm nhóm thuốc kháng H2 và thuốc ức chế bơm proton.

Lưu ý (*): Các thuốc điều trị viêm loét dạ dày trên đây còn được dùng để điều trị chứng trào ngược hoặc phòng tránh tái phát viêm loét.

Nhóm thuốc ức chế bơm proton

Nhóm thuốc này gồm các biệt dược như: Esomeprazole (Inexium, Nexium, Leziole), Esomeprazole (Inexium, Nexium, Leziole), Lanzoprazole (Lanzor, Ogast, Prevacide…); Omeprazole (Omeprazole, Mopral, Zoltum, Losec…)… Những biệt dược trên ức chế men H+/K+ khiến H+ không bị bơm ra ngoài, điều này có nghĩa là ngăn bài tiết dịch HCl.

Lưu ý (*): Các loại thuốc trên vừa được dùng để chống loét còn có tác dụng tốt để điều trị chứng trào ngược dạ dày thực quản. Hơn nữa thường dùng phối hợp với Clarithromycine, Amixicilline và Metronidazole để tiêu diệt vi khuẩn Hp.

Nhóm thuốc tạo màng bọc

Nhóm thuốc này có khả năng tạo kết dính với dịch dạ dày thành một vỏ bọc bao quanh ổ loét cũng như toàn bộ niêm mạc dạ dày. Chúng cũng có tác dụng trung hòa acid tuy nhiên tác dụng yếu hơn thuốc chống tiết acid. Tên biệt dược gồm:

  • Bismuth: Subcitrate Bismuth (Trymo) hay CBS,
  • Silicate Al (Kaolin, smecta), Silicate Mg (gastropulgite…)…

Ngoài ra nhóm này còn tác dụng diệt vi khuẩn Hp.

Liều lượng dùng: 120mg/lần, 4 lần/ngày, chỉ được dùng tối đa 30 ngày.

  • Sucralfatre (Ulcar, Keal, Sucrate gel, Sucrabest…): gồm muối Aluminium của Sucrose octa sulfat, khả năng gắn kết với protein của dịch dạ dày là rất chắc, giúp ngăn chặn hấp thu H+ đồng thời giúp kích thích sản xuất protaglandine. Do vậy, nhóm này được sử dụng nhiều hơn.

Liều dùng: 1gr/lần, 3 – 4 lần/ngày, uống trước khi ăn.

  • Misoprostol (Cytotec), Enprostol

Liều dùng: 200 mg/lần, dùng 4 lần/ngày hoặc 400 mg/lần, 2 lần/ngày. Dùng trong khi ăn và trước khi đi ngủ.

Một số loại thuốc khác như: Rebamipide hoặc Mucosta, hai loại viên nén này có tác dụng kích thích niêm mạc dạ dày tiết ra Prostaglandine, tăng chất lượng chất nhày bảo vệ niêm mạc dạ dày bằng cách làm tăng thành phần Glycoprotein. Ngoài ra còn gây ức chế sự bám dính của vi khuẩn Hp với niêm mạc dạ dày.

Liều dùng: 100 mg/ lần, 3 lần/ngày

Nhóm thuốc diệt Hp

Có rất nhiều loại kháng sinh đã được nghiên cứu và sử dụng trong việc điều trị khuẩn Hp, tuy nhiên theo khuyến cáo của bác sĩ thì đối với liệu trình lần đầu tiên thì nên sử dụng

Amoxicilline

Amoxicilline thường được dùng để diệt Hp do tương đối nhạy với khuẩn này. Thuộc nhóm beta – lacta, amoxicilline dùng để trị Hp thường đem lại hiệu quả cao, hầu như không có hiện tượng kháng thuốc, tác dụng phụ ít chủ yếu là buồn nôn và nôn. Liều sử dụng 2g/ngày x 7 – 10 ngày, hoạt tính của thuốc tùy thuộc vào pH dịch vị.

 

 

Imidazole

Nhóm imidazole với các dẫn chất như: metronidazol, tinidazol và ornidazole: Đây là các kháng sinh có khả năng tập trung nhiều ở niêm mạc dạ dày, có nồng độ cao trong chất nhày và không bị ảnh hưởng bởi biến động của pH. Tuy vậy, tỷ lệ kháng thuốc của nhóm này tương đối cao, giảm nhiều khi phối hợp 2 – 3 loại kháng sinh. Liều sử dụng 1 g/ngày x 7 – 10 ngày. Tác dụng phụ khi dùng ngắn ngày có thể bị buồn nôn, đi ngoài, dị ứng.

Clarithromycin

Kháng sinh thuộc nhóm Macrolid, có phổ tác dụng rộng. Trong điều trị Hp, hiện clarithromycin được khuyên dùng trong phác đồ ba thuốc, vì còn nhạy cảm cao với Hp. Thuốc không bị ảnh hưởng của pH dịch vị, dễ hấp thu hơn và tác dụng tích cực hơn đối với  Hp so với erythromycin, có khả năng lan tỏa vào lớp nhày và thấm tốt vào niêm mạc dạ dày. Clarithromycin có hiệu quả diệt Hp cao, tỷ lệ kháng thuốc của vi khuẩn thấp. Liều sử dụng 1g/ngày x 7 – 10 ngày.

Nguồn(Bài Thuốc VN)